SƠ BỘ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG NĂM 2013

Posted by at 19 September, at 08 : 26 AM Print

SƠ BỘ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG NĂM 2013

I.               Đánh giá chung

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước trong tháng 8/2013 đạt 23,24 tỷ USD, tăng nhẹ 1,9% so kết quả thực hiện của tháng 7 trước đó; trong đó, xuất khẩu đạt 11,92 tỷ USD, tăng 2,8% và nhập khẩu là 11,32 tỷ USD, tăng nhẹ 0,9%. Với kết quả này, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 8 này có mức thặng dư 0,6 tỷ USD.

Như vậy, tính từ đầu năm đến hết tháng 8/2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 170,15 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu đạt 85,16 tỷ USD, tăng 15,1% và nhập khẩu gần 84,99 tỷ USD, tăng 14,4%. Kết quả là cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam tính trong 8 tháng năm 2013 có mức thặng dư trị giá 176 triệu USD.

Biểu đồ 1: Diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại theo khối doanh nghiệp từ tháng 1/2012 đến hết tháng 8/2013

image002

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Đối với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu[1] trong8 tháng năm 2013 là 99,55 tỷ USD, tăng 25,5% và chiếm 58,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước; trong đó, xuất khẩu đạt 51,55 tỷ USD, tăng 26,7% và nhập khẩu là gần 48 tỷ USD, tăng 24,3% so với kết quả thực hiện của cùng kỳ năm trước.

Đối với khối doanh nghiệp trong nước, tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu trong 8 tháng năm 2013 là 70,6 tỷ USD, tăng 2,4% và chiếm 41,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam; trong đó, xuất khẩu đạt hơn 33,6 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 1% và nhập khẩu là 36,99 tỷ USD, tăng 3,7% so với kết quả thực hiện trong 8 tháng năm 2012.

Một số nhóm hàng xuất khẩu chính

Điện thoại các loại và linh kiện: Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 8/2013 đạt 1,85 tỷ USD, tăng 17,3% so với tháng trước (tương đương tăng 272 triệu USD), nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 8 tháng năm2013 lên 13,39 tỷ USD, tăng 80,8% so với cùng kỳ năm 2012.

Liên minh châu Âu (EU)[2] là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện xuất xứtừ Việt Nam với trị giá đạt 5,4 tỷ USD, tăng 71% và chiếm 40% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là các thị trường: Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất: 2,27 tỷ USD, tăng 156%; Ấn Độ: 642 triệu USD, tăng163%; Hồng Kông: 554 triệu USD, tăng 63,5%; Nga: 525 triệu USD, tăng 18,8%… so với cùng kỳ năm 2012.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt gần 998 triệu USD, giảm 1,1% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 8 tháng năm 2013 lên gần 6,78 tỷ USD, tăng mạnh 42,1% (tương đương tăng 2 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2012.

Các thị trường chính nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ Việt Nam trong 8 tháng năm 2013 bao gồm: Trung Quốc: gần 1,5 tỷ USD, tăng 27,5%; thị trường EU: 1,47 tỷ USD, tăng 73,8%; Hoa Kỳ: 856 triệu USD, tăng 50,1%; Malaysia: 747 triệu USD, tăng 41,8%… so với cùng kỳ năm trước.

  Hàng dệt may: Xuất khẩu nhóm hàng dệt may trong tháng 8/2013 đạt gần 1,8 tỷ USD, giảm nhẹ 1% so với tháng trước, qua đó nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 8 tháng năm 2013 lên 11,45 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 5,64 tỷ USD, tăng 13,8%; sang EU đạt 1,78 tỷ USD, tăng 7,8%; sang Nhật Bản đạt 1,52 tỷ USD, tăng 19,2%. Như vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này sang 3 thị trường lớn nhất đã chiếm tới 78% tổng trị giá xuất khẩu hàng dệt may của cả nước.

  Giày dép các loại: Kim ngạch xuất khẩu trong tháng đạt 734 triệu USD, giảm 4,2% so với tháng 7. Tính đến hết tháng 8/2013, xuất khẩu nhóm hàng giày dép đạt 5,47 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường EU đạt 1,89 tỷ USD, tăng 9,1% và chiếm 34,6% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 1,72 tỷ USD, tăng 18,5%; sang Nhật Bản đạt 261 triệu USD, tăng17%; sang Trung Quốc đạt 243 triệu USD, tăng 17,1%… so với cùng kỳ năm 2012.

Dầu thôTrong tháng, lượng xuất khẩu dầu thô là 717 nghìn  tấn, tăng 3% so với tháng trước. Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này tăng 4,3% (tương đương tăng 37 USD/tấn) nên trị giá đạt 643 triệu USD, tăng 7,4%. Tính đến hết tháng 8/2013, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 5,7 triệu tấn, giảm 6,1% và kim ngạch đạt 4,9 tỷ USD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước.

Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản: 1,7 triệu tấn, giảm 11,3%; sang Ôxtrâylia: 1,05triệu tấn, tăng 5,1%; sang Malaysia: 858 nghìn tấn, tăng 17,6%; sang Trung Quốc: 609 nghìn tấn, giảm 39,4% so với cùng kỳ năm 2012.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: Trong tháng 8/2013, xuất khẩu đạt 538 triệu USD, tăng 5,9%, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 8 tháng năm 2013 lên 3,87 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2012.

Tính đến hết tháng 8/2013, xuất khẩu nhóm hàng này sang Nhật Bản là gần 782 triệu USD, giảm 3,2%; sang Hoa Kỳ: 634 triệu USD, giảm 4,8%; sang EU: 461 triệu USD, tăng 1,6%; sang Hồng Kông: 232 triệu USD, tăng 12,6%; sang Trung Quốc: 223 triệu USD, giảm 1,6%… so với cùng kỳ năm trước.

Thủy sản: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong tháng đạt 660 triệu USD, tăng 10,1% so với tháng trước, qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng lên 4,05 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2012. Với mức tăng cao trong tháng 8/2013 và theo chu kỳ xuất khẩu, mặt hàng này được kỳ vọng sẽ đạt mức xuất khẩu tốt trong những tháng cuối năm.

 

                                        Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản theo tháng
từ năm 2010 đến hết tháng 8/2013

Nguồn: Tổng cục Hải quan

image002

Trong 8 tháng năm 2013, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam chủ yếu sang các thị trường sau: Hoa Kỳ đạt 874 triệu USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước; EU: 708 triệu USD, giảm 6,5%; Nhật Bản: 688 triệu, giảm 0,2%; Hàn Quốc: 276 triệu USD, giảm 14%…

Gỗ và sản phẩm gỗ: Xuất khẩu trong tháng đạt 475 triệu USD, tăng 4,7% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng năm 2013 lên 3,38 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2012.

Trong 8 tháng năm 2013, nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất sang Hoa Kỳ đạt 1,24 tỷ USD, tăng 7,8%; sang Trung Quốc: 581 triệu USD, tăng 18,2%; sang Nhật Bản: 512 triệu USD, tăng 19,7%; sang thị trường EU: 388 triệu USD,giảm 4,4%… so với cùng kỳ năm 2012.

Cao su: Tháng 8/2013, lượng xuất khẩu cao su đạt 107 nghìn tấn, trị giá đạt 232 triệu USD, giảm 12,6% về lượng và giảm 12,9% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 8/2013, tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước đạt 610 nghìn tấn, tương đương mức xuất khẩu của cùng kỳ năm trước, trị giá đạt 1,46 tỷ USD, giảm 17,7% so với cùng kỳ năm 2012.

Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 8 tháng qua với 272 nghìn tấn, giảm 10,5% và chiếm 45% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là Malaysia: 130 nghìn tấn, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2012…

Gạo: Trong tháng 8/2013, cả nước xuất khẩu 659 nghìn tấn, tăng nhẹ 1,4%, trị giá đạt 288 triệu USD, tăng 4,9% so với tháng trước. Tính đến hết 8 tháng năm 2013, lượng xuất khẩu nhóm hàng này là gần 4,88 triệu tấn, giảm 12,4% và trị giá đạt 2,14 tỷ USD, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 8 tháng năm 2013, Việt Nam xuất khẩu gạo chủ yếu sang các thị trường:  Trung Quốc: 1,62 triệu tấn, tăng 3%; Bờ biển Ngà: 421 nghìn tấn, tăng 13,5%; Philippin: gần 339 nghìn tấn, giảm 61,6%; Ghana: 289 nghìn tấn, tăng 34,9%; Malaysia: 287 nghìn tấn, giảm 44,1%… so với cùng kỳ năm 2012.

Cà phêLượng cà phê xuất khẩu trong tháng 8/2013 là 84 nghìn tấn, trị giá đạt 179 triệu USD, cùng giảm 7,8% về lượng và trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 8 tháng năm 2013, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta đạt 968 nghìn tấn, trị giá đạt 2,08 tỷ USD, giảm 23,7% về lượng và giảm 22,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012.

Hạt điều: Trong tháng 8/2013, cả nước xuất khẩu 29,5 nghìn tấn hạt điều,  mức cao nhất từ trước đến nay vớitrị giá đạt 192 triệu USD, tăng 7,5% so với tháng trước. Tính đến hết 8 tháng năm 2013, lượng xuất khẩu mặt hàng nàyđạt 167 nghìn tấn, tăng 18,3% và trị giá đạt 1,06 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước.

Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai đối tác chính nhập khẩu hạt điều từ Việt Nam với lượng nhập khẩu trong 8 tháng qua lần lượt là 54 nghìn tấn, tăng 36,8% và 30 nghìn tấn, tăng 14%. Như vậy, tổng lượng hạt điều Việt Nam xuất khẩu vào 2 thị trường này chiếm tới hơn 50% lượng điều xuất khẩu của cả nước trong 8 tháng năm 2013.

Than đá: Sau khi lượng xuất khẩu giảm mạnh trong tháng 7/2013 thì sang tháng này lượng xuất khẩu nhóm hàng than đá đã tăng trở lại nhưng cũng chỉ đạt 385 nghìn tấn, trị giá là 30,5 triệu USD.

Tính đến hết tháng 8/2013, lượng xuất khẩu than đá của cả nước là 8,22 triệu tấn, giảm 9,4% với trị giá là 592triệu USD, giảm 25,6% so với cùng kỳ năm 2012.

Một số nhóm hàng nhập khẩu chính

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt gần 1,55 tỷ USD, tăng 4,8% so với tháng trước. Trong 8 tháng năm 2013, nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước là gần 11,5 tỷ USD, tăng 42,1% so với 8 tháng năm 2012.

Hàn Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam với trị giá nhập khẩu là 3,29 tỷ USD, tăng mạnh 67,5%; tiếp theo là các thị trường: Trung Quốc: 2,88 tỷ USD, tăng 43,7%; Singapore: 1,41 tỷ USD, gấp 2,2 lần; Nhật Bản: 1,1 tỷ USD, tăng 4,1%… so với cùng kỳ năm 2012.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác: Trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng gần 1,55 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước, nâng trị giá nhập khẩu trong 8 tháng năm 2013 lên 11,62 tỷ USD, tăng 7,6% so với 8 tháng năm 2012.

Trong 8 tháng qua, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này từ Trung Quốc đạt 3,9 tỷ USD, tăng 15%; Nhật Bản: 1,91 tỷ USD, giảm 18,7%; Hàn Quốc: 1,79 tỷ USD, tăng mạnh 59,9%; Đài Loan: 558 triệu USD, giảm 5,1%; Đức: 532 triệu USD, giảm 3,8%…

Điện thoại các loại và linh kiện: Trong tháng 8/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 722 triệu USD nhóm hàng này, tăng 3,5% so với tháng trước, qua đó nâng tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 8 tháng năm 2013 lên 5,18 tỷ USD, tăng 71,9% về số tương đối và tăng 2,17 tỷ USD về số tuyệt đối.

Nhập khẩu nhóm hàng này vào Việt Nam trong 8 tháng năm 2013 chủ yếu có xuất xứ từ: Trung Quốc với 3,62 tỷ USD, tăng 72,4%; Hàn Quốc: 1,47 tỷ USD, tăng 95,6%. Tính chung trị giá nhập khẩu từ hai thị trường này chiếm 98,3% tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Xăng dầu các loại: Lượng xăng dầu nhập khẩu trong tháng là 695 nghìn tấn, trị giá gần 665 triệu USD, tăng 35,3% về lượng và tăng 37,1% về trị giá so với tháng 7/2013. Tuy tăng mạnh nhưng lượng nhập khẩu xăng dầu trong tháng vẫn ở mức thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân của năm 2012 (767 nghìn tấn).

Tính đến hết tháng 8/2013, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là gần 4,98 triệu tấn, giảm 23,2%. Đơn giá nhập khẩu bình quân của nhóm hàng này giảm 2,9% nên trị giá nhập khẩu đạt 4,68 tỷ USD, giảm 25,5% về số tương đối và giảm 1,6 tỷ USD về số tuyệt đối, trong đó phần trị giá giảm do yếu tố lượng giảm là 1,46 tỷ USD và giảm do yếu tố giá giảm là 141 triệu USD.

 

Bảng 1: Cơ cấu nhập khẩu xăng dầu các loại trong 8 tháng/2013

Tên hàng

8 tháng/2013

Tăng/giảm so với 8 tháng/2012 (%)

Lượng
(Nghìn tấn)

Trị giá
(Triệu USD)

Lượng

Trị giá

Dầu DO

2.185

2.006

-35,4

-37,9

Xăng

1.521

1.570

-18,0

-19,8

Nhiên liệu bay

793

794

25,6

23,4

Dầu FO

463

299

-21,2

-30,5

Dầu hỏa

15

15

-38,3

-38,2

Tổng cộng

4.977

4.683

23,2

25,5

Nguồn: Tổng cục Hải quan

 

Lượng nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam trong 8 tháng qua giảm mạnh, chủ yếu là giảm nhập khẩu từ thị trường chính Singapore với lượng nhập khẩu đạt gần 1,49 triệu tấn, giảm 44,6%. Lượng nhập khẩu từ một số thị trường khác như: Đài Loan: 922 nghìn tấn, tăng 4,8%; Trung Quốc: 830 nghìn tấn, giảm 7,4%; Cô Oét: 501 nghìn tấn, tăng 24,8%; Malaysia: 409 nghìn tấn, tăng 72% …

Lúa mỳ: Lượng lúa mỳ nhập khẩu trong tháng 8/2013 đạt 177 nghìn tấn, trị giá là 60,5 triệu USD, tăng mạnh 173,3% về lượng và tăng 167,5% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 8, cả nước nhập khẩu hơn 1 triệu tấn lúa mỳ các loại, giảm 43,2%, trị giá là 370 triệu USD, giảm 33,4% so với 8 tháng năm 2012.

Các thị trường cung cấp lúa mỳ cho nước ta chủ yếu là: Ôxtrâylia: 812 nghìn tấn, giảm 53%; Ấn Độ: 66 nghìn tấn, gấp 11 lần; Hoa Kỳ: 61,6 nghìn tấn, giảm 4,4%… so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên vật liệu ngành dệt may, da, giày: Trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,21 tỷ USD, giảm 10,6% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 8/2013, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này đạt 9,58 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Trị giá nhập khẩu vải: 5,38 tỷ USD, tăng 18,3%; nguyên phụ liệu: 2,42 tỷ USD, tăng 18,8%; xơ, sợi: 1 tỷ USD, tăng 9,5%; bông: 771 triệu USD, tăng 31,4%.

Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ các thị trường thuộc châu Á như: Trung Quốc: 3,54 tỷ USD, tăng 27,4%; Hàn Quốc: 1,7 tỷ USD, tăng 18,5%; Đài Loan: 1,36 tỷ USD, tăng 7,3%; Nhật Bản: 515 triệu USD, giảm 7,2% …

Sắt thép các loại: Lượng nhập khẩu sắt thép trong tháng đạt 766 nghìn tấn, tăng 18% về lượng so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn mức bình quân của 8 tháng năm 2013 (785 nghìn tấn). Trị giá nhập khẩu trong tháng đạt 513 triệu USD, tăng 10,1%.

Tính đến hết tháng 8/2013, tổng lượng nhập khẩu sắt thép của cả nước là 6,28 triệu tấn, trị giá là 4,48 tỷ USD, tăng 25,9% về lượng và tăng 10,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. 

Biểu đồ 3: Lượng nhập khẩu sắt thép các loại theo tháng
từ tháng 1/2010 đến tháng 8/2013

Bieu3

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Sắt thép các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 8 tháng qua chủ yếu có xuất xứ từ: Trung Quốc: 2,34 triệu tấn, tăng 67,2%; Nhật Bản: 1,73 triệu tấn, tăng 28,3%; Hàn Quốc: 928 nghìn tấn, giảm 9,9%; Đài Loan: 621 nghìn tấn, tăng20,5%… so với 8 tháng/2012.

Thức ăn gia súc và nguyên liệu: Trong tháng 8/2013, cả nước nhập khẩu 304 triệu USD nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu, tăng 9,7% so với tháng trước. Tính đến hết 8 tháng năm 2013, cả nước nhập khẩu 2,07 tỷ USD nhóm hàng này, tăng 40,1% so với 8 tháng năm 2012.

Việt Nam nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu trong 8 tháng qua chủ yếu từ các thị trường lớn sau: Achentina: 624 triệu USD, tăng 75,7%; Hoa Kỳ: 281 triệu USD, tăng 62,1%; Ấn Độ: 268 triệu USD, tăng 34,1%; Brazil: 153 triệu USD, tăng 18,4%; Italia: 151 triệu USD, tăng 64,3%… so với 8 tháng năm 2012.

Phế liệu sắt thép: Trong tháng 8/2013, cả nước nhập khẩu 276 nghìn tấn, trị giá là 101 triệu USD, giảm 17% về lượng và giảm 20,9% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 8 tháng năm 2013, cả nước nhập khẩu 2,23 triệu tấn với trị giá 881 triệu USD, tăng 6,8% về lượng và giảm 6,1% về trị giá so với 8 tháng năm 2012.

Các thị trường chính xuất khẩu phế liệu sắt thép cho Việt Nam bao gồm: Hoa Kỳ: 383 nghìn tấn, tăng 35,4%;Nhật Bản: 339 nghìn tấn, gấp 2,4 lần; Ôxtrâylia: 218 nghìn tấn, giảm 31,4%… so với cùng kỳ năm 2012.

Chất dẻo nguyên liệu: Lượng nhập khẩu trong tháng 8/2013 là 266 nghìn tấn, trị giá là 481 triệu USD, giảm 0,5% về lượng và giảm 0,3% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 8/2013, tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam là hơn 2 triệu tấn, tăng 13,6%, kim ngạch nhập khẩu là gần 3,67 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 8 tháng qua, Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ các thị trường: Ả rập Xê út: 461 nghìn tấn, tăng 21,8%; Hàn Quốc: 417 nghìn tấn, tăng 25,8%; Đài Loan: 286 nghìn tấn, tăng 11,2%; Thái Lan: 202 nghìn tấn, tăng1,7%… so với cùng kỳ năm 2012.

Phân bón các loại: Lượng phân bón nhập khẩu trong tháng là 414 nghìn tấn, trị giá 139 triệu USD, giảm 18% về lượng và giảm 22,4% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 8 tháng năm 2013, tổng lượng phân bón các loại nhập khẩu vào Việt Nam lên đến 2,92 triệu tấn, trị giá là 1,12 tỷ USD, tăng 20,2% về lượng và tăng 6,5% về trị giá so vớicùng kỳ năm trước.

Trung Quốc tiếp tục là nguồn nhập phân bón lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng năm 2013 với 1,39 triệu tấn, tăng 10,4%; tiếp theo là Philippin: 246 nghìn tấn, tăng 13,9%; Nhật Bản: 196 nghìn tấn, tăng nhẹ 0,7%; Belarus: 184 nghìn tấn, giảm 10,6%; Israel: 181 nghìn tấn, tăng 87,7%… so với cùng kỳ năm 2012.

Ô tô nguyên chiếc: Lượng nhập khẩu ô tô trong tháng 8 chỉ đạt hơn 2,1 nghìn chiếc, giảm 20,2% so với tháng trước; trong đó giảm ở tất cả các loại xe: ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống, ô tô tải và ô tô loại khác. Số liệu cụ thể được thể hiện như trong Bảng 3.

Tính đến hết 8 tháng năm 2013, tổng lượng ô tô nguyên chiếc nhập về là gần 21,8 nghìn chiếc, tăng 22,2%, trị giá là 421 triệu USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2012.

 

Bảng 4: Cơ cấu nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong 8 tháng/2013

Đơn vị tính: Chiếc

STT Loại xe T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8
1 Ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống 2.010 672 1.166 1.740 1.476 1.866 911 697
2 Ô tô tải 789 749 1.014 1.084 1.704 1.513 1.408 1.217
3 Ô tô loại khác 200 103 278 247 241 198 269 209
Tổng cộng 2.999 1.524 2.458 3.071 3.421 3.577 2.588 2.123

 

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Hàn Quốc tiếp tục là thị trường chính cung cấp ô tô nguyên chiếc cho Việt Nam với gần 9,9 nghìn chiếc, tăng 35,6% so với cùng kỳ năm 2012 và chiếm 45,5% tổng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước; tiếp theo làThái Lan: hơn 4,5 nghìn chiếc, tăng 34,6%; Trung Quốc: 2,45 nghìn chiếc, giảm 7,4%; Nhật Bản: 1,3 nghìn chiếc, tăng57,6%…


[1]Không tính dầu thô xuất khẩu.

[2] EU (27): Trong bản báo cáo này, Liên minh châu Âu (EU) vẫn được tính là 27 nước thành viên để đảm bảo tính so sánh với cùng kỳ các năm trước.

 

Nhập khẩu Tin Tức

Related Posts

Post Your Comment

TDK EXPRESS

Hà Nội
Add: 1/165 Dương Quảng Hàm, Cầu Giấy Mobie: 01674538359
Email: tdkintra@gmail.com

Hồ Chí Minh
Add: 16 Nguyễn Văn Lượng, P.6, Gò Vấp Mobie: 0966295596
Email: hcm.tdk.express@gmail.com
-------------------------------------------------------- Copyright © TDK
Đơn vị chủ quản: TDK Group

DICH VU TONG HOP

DICH VU TONG HOP 24H

Share
be a pal and share this would ya?
SƠ BỘ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG NĂM 2013